Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017

Khốc hướng Kim Lăng

Việc đời tính rất thông minh
Việc mình mình tính phận mình vẫn sai

Trong Kim Lăng Thập nhị thoa Chính sách 12 người 12 vẻ, bao gồm hết những người con gái đẹp nhất, tiêu biểu nhất trên thế gian này. Nếu không chọn được một trung nhân trong 12 thoa ấy thì thế giới này chẳng còn ai cho bạn chọn nữa. Nhưng trong 12 lá ngọc cành vàng kia chỉ có một người xứng đáng là phượng hoàng, dù là chim phượng lỗi thời đi nữa ! Trong bài viết này tôi không nói về cuộc đời của Phượng Thư, mà chỉ bàn đến khía cạnh tính cách con người của nàng. 

Phượng Thư đáng yêu không? Có !
Phượng Thư đáng ghét không? Có !
Phượng Thư đáng thương không? Có !
Phượng Thư đáng giận không? Có !

Mà tất cả yêu thương hờn ghét đó đều gói ghém trong một con người, một hành động, một sự việc. Sự yêu ghét ấy không thể tách bạch rõ ràng mà là trong yêu có ghét trong giận có thương. Hãy xem Phượng Thư lộng lẫy đài các thế nào:

"Người này trang sức không giống các cô kia, gấm thêu lộng lẫy, trông như một vị thần tiên! Trên đầu, đỡ tóc bằng kim tuyến xâu hạt châu, cài trâm Ngũ Phượng Triêu Dương đính hạt châu, cổ đeo vòng vàng chạm con ly, mình mặc áo vóc đại hồng chẽn thêu trăm bướm lượn hoa bằng chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo màu xanh lót bằng lông chuột bạch viền chỉ ngũ sắc, mặc quần lụa hoa màu cánh trả; mắt phượng, mày cong lá liễu, vóc người óng ả, dáng điệu phong lưu, thật là: 
Mặt phấn đầy xuân trông vẻ dịu. 
Làn son chưa hé miệng như cười."

 Mọi người yêu nàng, ta cũng có lý do để yêu nàng. Mọi người ghét nàng, ta cũng có lý do để ghét nàng.Tuy xinh đẹp nhưng Hy Phượng lại là người phụ nữ đanh đá, chanh chua, cay nghiệt và độc ác nên có biệt danh là Phượng ớt. Là người nắm tất cả quyền hành trong phủ Vinh, Phượng Thư ngày ngày cai quản mọi việc vô cùng khéo léo, thông thạo, có thể quán xuyến công việc nhà cửa nên được người trên như Giả mẫu hay Vương phu nhân rất quý mến, nhưng bị người dưới e ngại, có khi thù ghét. Tuy không biết đọc sách ngâm thơ nhưng nàng lại có đầu óc thông minh sắc sảo, giỏi tính toán, xứng đáng vào bậc nữ lưu hào kiệt trong phủ, nam nhân không thể so sánh được.
Hãy xem cách nàng ta yêu mến riêng em Lâm trước mặt Giả Mẫu, nếu là Bảo Ngọc thì không cần thắc mắc nhưng Đại Ngọc chỉ là một cô bé mồ côi đến ở nhờ Vinh phủ, gia thế lụn bại, thân cô thế cô, có gì đáng để ra sức nuông chiều? Hay cách mà nàng ta đối xử với tình địch trước mặt mọi người, trăm chiều ve vuốt tán dương. Ta ghét vẻ ton hót giả dối của Phượng Thư nhưng cũng phải thừa nhận đó là bản lĩnh khôn ngoan sắc sảo của nàng. Trong một gia đình phong kiến quý tộc thì sự tồn tại và địa vị phải dựa vào bản lĩnh. nếu Phượng Thư không có bản lĩnh ấy, có lẽ đã sớm ra thiên cổ hay sống mờ nhạt như góa phụ đạo đức Lý Hoàn. Hy Phượng cũng như Sử Tương Vân, là người khoáng đạt tự tin, lời nói tự nhiên thẳng thắn không đâm móc đá xéo. Tuy không có lưỡi câu ngầm trong miệng như Đại Ngọc hay cái lưỡi bén như đao kiếm của Bảo Thoa, mà nàng ta giết người không cần gươm dao, không cần lời nói, chỉ im im cũng khiến người ta chết trong khổ ải tận cùng.

Nạn nhân đầu tiên của Phượng Thư là anh chàng trẻ tuổi học thói trêu hoa ghẹo nguyệt Giả Thụy. Mới ra đời học bài vỡ lòng, chọn ai không chọn lại chọn ngay Hy Phượng mà đùa, đúng là con người khờ dại lắm. Phượng Thư lại là người độc ác dã man, đâu biết vị tình. Thật ra dù có thể bỏ qua cho anh chàng non người bồng bột ấy nhưng không, nàng quyết lập mưu giết anh ta tới chết với cái gương Phong Nguyệt Bảo Giám mới thôi. Chàng ta tới chết vẫn không hiểu vì sao mà chết. Chết vì trời lạnh cảm thương hàn hay chết vì lòng dạ băng giá của Phượng Thư ? Lòng người lạnh còn đáng sợ hơn trời lạnh. Những người si tình khờ dại trong Hồng Lâu Mộng quyết không ai có được kết cục tốt đẹp. Nói thêm về cái gương Phong Nguyệt Bảo Giám ấy, đó là một uyển ngữ đặc sắc cho tinh thần đạo gia: Thân xác vốn là tạm bợ, nhan sắc phấn son kết cục cũng chỉ là tro bụi, ngộ ra đạo lý ấy sẽ thấy mỹ nhân chẳng qua chỉ là hạng đầu lâu bôi phấn mà thôi. Bộ xương người là phản chiếu sự thật phía sau dung mạo mỹ miều của Hy Phượng, Giả Thụy cứ si mê theo đuổi ảo ảnh mà chết trong ảo ảnh ấy, ngẫm anh chàng đáng thương, mà thiên hạ cũng còn lắm người rất đáng thương.

Nạn nhân thứ hai là quốc sắc thiên hương Vưu Nhị Thư, tình nhân xinh đẹp của anh chồng Giả Liễn. Giả Liễn là mẫu đàn ông được lắm người yêu mến vì vẻ phong nhã đẹp trai, có chút thi thư lãng mạn, dáng vẻ phong lưu đa tình, lại gia thế lẫm liệt tiền cài bạc giắt. Có anh chồng như thế công cuộc giữ chồng thật là một trấn chiến phấn son. Trận mạc phấn son cũng ác liệt không kém gì giữa làn tên lưỡi giáo, có kẻ thắng người thua, kẻ chết người còn. Một Bình Nhi xinh đẹp hiểu đời, một Thu Đồng đanh đá chua ngoa đã lắm phiền não, lại còn thêm cô Đa cô Thiểu cô Vưu.... Những vệ tinh lớn nhỏ ấy không ai tránh được tính ghen tuông ác nghiệt của Phượng Thư. Nàng ta ghen đến nỗi tuy Bình Nhi là người hầu bên cạnh nhưng anh chồng Giả Liễn dù có thèm chết cũng không dám rờ mó mà Bình Nhi dù muốn an ủi Giả Liễn cũng phải ngó trước dòm sau. Khi nàng ta nổi ghen cũng bất kể xấu đẹp gây một trận ồn ào trong Vinh phủ, Giả Mẫu phải đứng ra dàn xếp cho. Tuy vậy Bình Nhi là người hiểu chuyện, biết thân phận lại theo hầu Phương Thư từ nhỏ, là cánh tay nối dài của Phượng Thư nên cũng được dung dưỡng đôi phần. Còn Vưu Nhị Thư là người ngoài, là địch nhân thật sự. Nếu chỉ bắt về làm vạ với Giả Liễn thì đó không phải Phượng Thư. Trận đòn ghen ấy không chỉ giúp nàng đày đọa tình địch đến sống dở chết dở, hành hạ anh chồng đa tình mèo mỡ đau tưởng đứt ruột đứt gan cũng không dám khóc, tiện tay loại được cô nàng hầu tinh ranh đanh đá Thu Đồng, lại vừa tung hê chửi bới xỉa xói cả nhà Giả Trân từ đầu xuống gót vừa moi được thêm một mớ ngân lượng từ nhà Giả Trân nữa. Trừ Phượng Thư không ai có tâm kế độc địa đến vậy. Đàn ông thì sợ nàng, còn sớm tối nguyền rủa cho nàng ta mau chết. Đàn bà đọc đến đấy, tuy cũng ghê sợ rùng rợn trước thủ đoạn tàn nhẫn của Phượng Thư nhưng trong lòng phải bội phục mà tạc vào lòng bài học ghen tuông ấy.

Nạn nhân thứ ba, cánh tay nối dài của Hy Phượng, chính là cô hầu Bình Nhi. Tuy là thân tín trung thành nhất, vẫn không thoát khỏi thói cay nghiệt của Phượng Thư. Phương Thư đối đãi với chị em thì rộng rãi, với tôi tớ thì hà khắc, với cô hầu vợ lẽ của chồng thì hẹp hòi đố kỵ. Nhưng đàn bà âu là thế, càng ghen trông càng đáng yêu. Dù sao so với Hạ Kim Quế thì Phượng Thư mới chỉ độc chứ chưa ác. 

Nạn nhân thứ tư, vô cùng thê thảm, kẻ sống uổng người chết uổng, kẻ bỏ đi tu. Nạn nhân thứ tư của Phương Thư là một nhóm người vì kế tráo rường đổi cột của Hy Phượng mà ngọc tối vàng phai. Người đẹp nhất, tài hoa nhất, vì kim ngọc lương duyên hay mộc thạch tiền duyên mà kẻ si quá mà chết, người khôn quá cũng chết. Để cho hoa vùi trong đất lạnh, người ngọc khóc bên chăn gối lạnh, kẻ mang cõi lòng lạnh đi vào cửa thiền. Tất cả vì sự tàn nhẫn tham lam của Phượng Thư mà ra. Cô ta có thương Đại Ngọc không? Có ! Có yêu Bảo Ngọc không? Có ! Có mến Bảo Thoa không? Có! Vậy tại sao cô ta lại bày ra được mưu kế độc ác đến như vậy với họ? Chỉ bởi vì Phượng Thư là con người quá tàn độc ích kỷ nên không thể hiểu được rằng ái tình có thể khiến người ta sống chết vì nó. Đến khi tiếng nhạc tân hôn trỗi lên cùng khúc nhạc đưa ma Phượng Thư vẫn không hiểu vì sao Đại Ngọc chết, cô ta vẫn cho rằng em Lâm chết vì bệnh chứ không phải vì si tình. Nếu hiểu nguồn cơn bệnh tình của Đại Ngọc thì Hy Phượng đã không bày ra kế ấy, hại cả ba người dang dở, ôm trong lòng khối hận băng giá không thể nguôi ngoai.  

Nạn nhân của Phượng Thư còn vô số người nữa. Một tay Phượng Thư đã gây ra bao nhiêu cảnh trái ngang. Nhưng nạn nhân thê thảm nhất trong tay nàng lại chính là bản thân nàng. Ta thấy Hy Phượng không hề bị tàn phá bởi chữ tình như đa số nhân vật khác mà lại héo hon sầu khổ vì chữ Danh lợi. Phượng Thư ghen tuông rất dữ dội nhưng hãy xem cách mà cô ta ghen với cách mà Đại Ngọc ghen khác nhau như thế nào. Cô Lâm khi ghen thì tự dằn vặt bản thân, còn Hy Phượng khi ghen thì tình địch ắt chết thảm. Phượng Thư lộng quyền và không hề coi Giả Liễn ra ngô ra khoai gì, Giả Liễn chẳng qua chỉ để đảm bảo vị trí mợ hai trong Vinh phủ của cô ta mà thôi. Tình ái trong lòng Phượng Thư không hề tồn tại, chỉ là bắc thang lên danh vọng cho nàng. Để rồi cả đời lao tâm khổ tứ vì danh lợi ấy mà đến tính mạng cũng mất, con thơ lưu lạc bị hà hiếp trăm đường. Nếu không có Bình Nhi thì Xảo Thư đã gánh hết nghiệp chướng của mẹ. Cả một đời thông minh, xinh đẹp, tính toán trăm đường nhưng rồi đến lúc xuôi tay Danh chẳng còn lợi cũng buông rơi. Lúc trên cành cao như phụng hoàng xòe cánh, cất tiếng hót khiến ai nấy vừa mê thích vừa kinh sợ. Khi sa cơ như gà trong mưa, đến ổ đến con cũng không bảo vệ được, bất lực nhìn những xa hoa phù phiếm năm xưa trôi qua trước mắt, tan tành bụi khói...

Người ta ai cũng chết, có những người chết trong oan tình uất ức như Kim Xuyến, Tình Văn. Có những người ôm khối hận tình si mà chết như Đại Ngọc, Tam Thư, Nhị Thư. Có những người chết khi vẫn đang còn sống như Tích Xuân, Bảo Thoa. Lại có những người chết vì thuốc độc trong lòng họ như Kim Quế. Nhưng chết đau đớn, chết trong bất lực, chết trong sự chẳng cam tâm, chết trong dày vò giằng xé, xuôi tay mà không thể nhắm mắt thì chỉ có Phượng Thư. Tình Văn trước khi chết đi còn có Bảo Ngọc làm tri kỷ tạ tình nàng. Còn Hy Phượng, khi đắc thời dốc sức lo tang ma cho người khác linh đình rộn rã, đến khi nằm xuống chẳng một ai thương cảm đoái hoài. Cuộc đời nàng phù hoa nhưng bạc bẽo như chính thứ Danh lợi Kim tiền mà nàng ta tôn sùng vậy.

Những người theo đuổi bốn chữ Danh lợi Kim tiền chỉ mang đến hạnh phúc nhất thời, không bao giờ mang đến hạnh phúc trọn đời. Khi nhận ra điều đó đã quá muộn màng, chỉ có thể nhìn lại Kim Lăng mà tự ngẫm nỗi bi ai, tự khóc cho mình bằng những giọt nước mắt sực mùi tanh. 


Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường...


ay say khó ngủ lại nói chuyện Thúy Kiều :))

Tôi chẳng hơn gì Kiều nên tôi chẳng dám chê Kiều. Nhưng cái việc Kiều giữ giá trước giường tân hôn nó xàm lắm. Kim Trọng sinh tử tìm nhau là vì lời thề vàng đá năm xưa chứ đâu phải cầu chuyện trăng hoa. Tôi nghĩ nếu Kiều thật lòng yêu Kim Trọng thì nghề hay ngón lạ đã học trong 15 năm qua nên đem ra dốc lòng hầu hạ cho đức ông chồng đã chịu thiệt thòi này. Nếu tự trọng bản thân như nàng nói thì cứ ở trong am Phật. Còn đã theo về làm vợ lại còn muốn cành cao thì thật giả dối, ngụy tạo. Cái gì giả dối thì dù có óng chuốt đi nữa nó cũng ghê tởm bẩn thỉu hơn nhiều những cái thật mà thô.

Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan

Thật sự trinh tiết của người đàn bà còn là còn không còn là mất, có đâu "còn một chút"? Tôi thấy buồn cười trước cái suy nghĩ "danh cao giá đắt" lạ lùng này. Kim Trọng cũng gián tiếp thừa nhận (và chấp nhận) vì quá yêu Kiều mà bỏ qua cả trinh tiết, cứu chữa cho thể diện của nàng rằng:

Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

Chỉ có Kiều bảo "còn một chút này" lại có ý làm cao muốn giữ lại cái "một chút" đó. Đàn bà giữ gìn trinh tiết là để cho ai? Cho bản thân hay để cho chồng? Nếu khăng khăng giữ vì bản thân thì đã chẳng về làm vợ chàng Kim. Còn nếu vì chồng, thì ai là chồng nàng? Có phải là người ngồi trước mặt đấy không? Vậy còn giữ cho ai nữa? hay giữ cho những anh chồng cũ ? Cho nên cái "trinh" mà Kiều muốn giữ tôi không hiểu là giữ vì ai và vì cái gì ? Và cái quan niệm "trinh tiết" đó của Kiều nó chẳng theo một hệ tư tưởng nào cả. Nó chẳng phải duy vật hay duy tâm mà cũng chẳng theo Phật hay Khổng Mạnh. Mười lăm năm trước Kiều bỏ qua lễ giáo gia phong xăm xăm đi tìm Kim Trọng, cọc chạy theo trâu, cũng đem chữ trinh ra dạy dỗ chàng ta. Đến nay vẫn đem chữ trinh ấy mà đội lên đầu Kim Trọng. Kim Trọng thiệt là có phước khi ngậm trọn cái trinh tiết ấy của Kiều mà lại còn gật gù khen phải. Xin lỗi, nhưng tôi không thể không cười vào mặt anh ta =))

"Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi
Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may.
----------------
Những là ân ái vành ngoài
Cũng toan mở mặt với người cho qua."

Nếu Kiều thật là người tự trọng, thì đã ở trong am cỏ ấy chứ không theo Kim Trọng về. Còn đã theo phận xướng tùy, tức là chịu về làm vợ Kim Trọng thì có đâu lại xướng tùy mảy may, tức là chỉ "làm vợ chàng một chút", ưng bụng thì tùy mà không ưng thì không tùy? Ân ái đâu mà lại có "ân ái vành ngoài" ? Kiều không muốn dư luận không hay về mình, nên mới giữ lấy ân ái vành ngoài ấy mà đối phó cho qua với người ngoài. Có lẽ nàng ta không hiểu rằng vợ chồng ân ái, dù là vành ngoài vành trong kiểu nào đi nữa, cũng chỉ vợ chồng biết với nhau mà thôi. Người ta chỉ biết việc hai người lấy nhau, còn như thế nào đâu ai biết được. Hổ thẹn hay không phải tự hỏi lòng mình chứ nhìn vào dư luận mà hổ thẹn thì tự trọng ấy chỉ là cái vỏ bề ngoài. Kiều nhu nhược, sĩ diện, và quá trọng việc người ngoài đánh giá nàng. Kiều không cảm thấy xấu hổ vì bản thân, mà xấu hổ vì cái nhìn của người khác. Cho nên nói Kiều tự trọng thì không hẳn, tự ái có lẽ đúng hơn.

Nguyễn Du vẽ ra cảnh này là thừa. Vì cuối cùng cái danh giá của Kiều cũng là bỏ đi. Vốn đã lấm lem bùn đất, cho dù có nhặt nhạnh lại gác lên giá cao, thì cũng vẫn là nhơ nhuốc. Nguyễn Du hay Kim Trọng có mất công chiêu tuyết cho Kiều, cũng bị chính Kiều thẳng chân giẫm đạp cả thôi !

Nói thêm một việc là tửu lượng của Kiều cũng hơi bị dữ dằn. Năm xưa lần đầu gặp Kim Trọng, hai người cũng uống được thâu đêm. Sau 15 năm lưu lạc ấy tửu lượng chắc lên một tầm cao mới. Riêng cái khoản hay rượu này cũng đủ cho thấy nàng Kiều là người lãng mạn, phong lưu đa tình. Thôi thì chữ trinh ấy giữ lấy một hôm, đâu ai bắt giữ cả đời. Dù sao đi nữa, hoa xưa ong cũ gặp nhau rồi, làm giá làm hành cũng chỉ đến vậy mà thôi.

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Phù Dung Cổ Tự - Sự thật lịch sử và sự lãng mạn mơ hồ

Chùa Phù Dung vốn là một ngôi chùa cổ có kiến trúc đẹp đẽ, được cất ở chân núi Phù Dung xưa. Vì núi có tên Phù Dung nên chùa cất ở đấy cũng gọi theo tên ngọn núi, chứ Phù Dung chẳng phải tên gọi của ái cơ ái thiếp nào của Mạc Thiên Tích cả. Sau này do loạn lạc giặc Xiêm nên chùa đã bị phá hủy.
chùa Phù Dung được cất lại ở núi Bình San, tức nền cũ của Chiêu Anh Các, nhưng không được tiếp tục duy trì tên cũ vì kỵ húy “tên cúng cơm” của vua Thiệu Trị. Thời đó, từ Bắc chí Nam, các địa danh có chữ Dung đều phải đổi. Chẳng hạn như huyện Phù Dung ở ngoài Bắc đổi lại là huyện Phù Cừ. Còn ở Hà Tiên, núi Phù Dung cũng đổi lại là núi Phù Cừ.  Do đó, sau khi cất lại chùa, ông Doãn Uẩn quyết định đổi tên là chùa Phù Anh tức Phù Dung và Chiêu Anh các ghép lại. Thời đó lũy chung quanh núi cũng gọi là lũy Phù Anh. 
Nguyên nhân lầm lẫn vị trí và tên gọi chùa Phù Dung, Phù Cừ là từ sách vở. Đời Minh Mạng có Gia Định thành thông chí, đời Thiệu Trị có Hoàn Vũ ký, đời Tự Đức có Đại Nam nhất thống chí. Khi thực hiện bộ sách Đại Nam nhất thống chí, trình lên vua Tự Đức xem thì vua bảo, sách còn sai nhiều chỗ, đem về làm thêm bản phụ biên để sửa. Nhưng trong lúc tập phụ biên đang làm thì Pháp tấn công Đà Nẵng rồi sau đó chiếm luôn Gia Định và Nam kỳ. Triều đình Tự Đức trong giai đoạn này, văn khố lộn xộn, nhiều tài liệu sách vở bị thất lạc. Bộ sách Đại Nam nhất thống chí được người đời sau tìm những gì còn sót chép lại, còn phần bổ biên không tìm thấy. Sau khi Tự Đức qua đời, đến thời vua Duy Tân, Đại Nam nhất thống chí được làm lại. Bấy giờ Nam kỳ đã không còn là thủy thổ của triều đình Huế, sách không nói đến lục tỉnh, nên không có Hà Tiên.
Còn giai nhân Phù Cừ hồng nhan tri kỷ của ông Mạc Thiên Tích vốn là sản phẩm truyền miệng trong dân gian, mà bắt nguồn là từ tiểu thuyết Nàng ái cơ trong cái chậu úp của Mộng Tuyết. Sau này ông già Nam bộ Sơn Nam đã sưu tầm và chép lại làm tư liệu khảo sát miền Tây Nam bộ. Câu chuyện càng lâm ly bi đát hơn khi được soạn giả Kiên Giang viết thành vở Áo cưới trước cổng chùa. Thời buổi loạn lạc thông tin ít ỏi, người chữ nghĩa không nhiều, lưu trữ không thông nên việc nhầm lẫn kể cũng không tránh khỏi. Từ đó nàng Phù Dung bước vào lịch sử. Người dân miền Tây chơn chất thật thà, giàu tình cảm, tuy về lịch sử không biết nhiều nhưng về tình cảm luôn tràn đầy, họ yêu mến và thương cảm cho số phận éo le của nhân vật Phù Cừ đồng thời căm ghét thói ghen tuông đố tài của bà vợ cả nên câu chuyện từ hư thành thực. Trong đời sống bình dân câu chuyện cả - lẽ thì phần ác luôn nghiêng về bà cả. Họ xây dựng ban thờ của người "ái cơ" đó trong Phù Dung Cổ tự cũng không có gì lạ. Và "bà Phù Dung" ấy đã trở thành một giai thoại liêu trai của đất Hà Tiên. Có lẽ không có bà, câu chuyện Phù Dung Cổ tự cũng chẳng còn  màu sắc lãng mạn bi ai khiến người sau nhớ mãi. Nó chỉ còn là một ngôi chùa nhuốm phong sương thời cuộc, chứng kiến lớp lớp thăng trầm dâu bể của người và cảnh nơi địa đầu biên giới mà thôi.
Đương nhiên chuyện tiểu thuyết muốn nói gì thì nói, nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Mạc Thiên Tích mở cõi, công lao của người vợ sát cánh cùng ông cũng không nhỏ. Dù sao gieo tiếng oan cho hiền phụ của người có công mở mang đất Hà Tiên cũng là điều không nên vậy.
Ai yêu mến con người và thủy thổ miền Tây Nam bộ, cũng nên biết qua lịch sử xứ này, không nên để sai càng sai, lầm càng lầm. Còn hình ảnh giai nhân "Phù Dung" tài hoa khổ mệnh mỗi người có thể lưu dấu riêng trong tâm khảm của mình, mà thêm yêu mảnh đất xinh đẹp hiền hòa Hà Tiên.

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

MÁU GHEN ĐÂU CÓ LẠ ĐỜI MÀ GHEN

Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều

8/3 nói chuyện đàn bà...

Mặc dù khi nói tới Hoạn Thư thì ai cũng cho rằng đó là người phụ nữ chua cay đanh đá ngoa ngoắt, ác độc, tâm kế hiểm sâu. Đến nỗi máu ghen Hoạn Thư trở nên điển hình của tất cả các bà vợ ghen tuông đáng sợ. Cũng như Kiều trở thành điển hình của các em gái từ hạng sang đến đứng đường (oan cho Kiều mà cũng oan cho Hoạn). Là vì người ta chỉ thấy việc Hoạn Thư làm mà không thấy được dụng tâm dụng ý trong ấy.
Hoạn Thư, về gia thế nguồn gốc là một thiên kim tiểu thư, con gái quan Lại bộ Thượng thư, nhất phẩm triều đình. Nàng là người tri thư đạt lễ, lý lẽ hiểu biết, vừa thông minh nhân hậu, lại đầy bản lĩnh. Một người vợ đầy đủ cả về gia thế, kim tiền, lẫn tư phong lễ nghĩa

"Ở vào khuôn phép, nói ra mối giường"

"Ở ăn thì nết cũng hay
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già"

So với Kiều hay Thúc, Hoạn Thư danh giá và quyền lực hơn nhiều. Muốn giết Kiều cho hả giận cũng chẳng khó, nhưng cái nàng cần không phải là cái chết của tình địch, mà là bài học cho ông chồng lòng chim dạ cá dám qua mặt nàng. Hoạn thư ghen không phải vì không muốn cho chồng lấy vợ lẽ mà vì Thúc sinh đã vi phạm cái nền nếp của gia đình quý tộc. Muốn lấy lẽ mà ko trình qua vợ cả, là quá xem thường Hoạn Thư. Giết Kiều thì dễ, triệu hồi lang quân mới khó. Người thường chọn việc dễ, người bản lĩnh đương đầu với khó khăn. Hoạn Thư đã cho Thúc Sinh cơ hội khi đem "những lời đâu đâu" để gạn hỏi chuyện Lâm Truy mà dư luận đang bàn tán. Cái mà người vợ mong chờ cũng đâu phải là quá đáng: chỉ cần được chồng báo tin, được thú thật, để rồi được bao dung tha thứ một cách đàng hoàng. 

"Ví bằng thú thật cùng ta. 
Cùng dong kẻ dưới mới là lượng trên. 
Dại chi chẳng giữ lấy nền
Hay chi mà rước tiếng ghen vào mình"

Đáng tiếc là chàng Thúc không phải là tri âm tri kỉ của vợ, tưởng mọi chuyện còn kín, hơn nữa thuộc loại nhát gan, lo sợ mọi việc đổ vỡ. Thành thử, vì sự im lặng của chàng, sau này người vợ tốt phải mang tiếng ghen tuông cay nghiệt, còn người tình vàng đá thì rơi vào tình cảnh nhục nhã ê chề.

Nhưng trên hết cái đáng nể phục ở Hoạn Thư ko phải là sự thông minh bản lĩnh, mà chính là cách nàng ta cư xử với mọi người xung quanh. Rõ ràng về gia thế hay địa vị, Thúc Sinh chẳng là cái đinh gì so với Hoạn Thư. Việc lấy Thúc Sinh có thể xem như Hoạn Thư đã phải hạ mình. Thế nhưng nàng ta vẫn một mực tôn kính chồng, hết lòng bảo vệ cho danh dự thể diện của một anh lái buôn mê gái. Khi phát hiện chồng có nhân tình giấu giếm bên ngoài, nàng ta vẫn nhất mực nói năng dịu dàng, giữ gìn hòa khí. Bây giờ các mụ khi ghen thì nhảy dựng lên xỉa xói nhau rồi bảo rằng "máu ghen Hoạn Thư". Nếu mà ghen được như Hoạn Thư thì đã chẳng mất chồng.
Nói về Kiều - nhân tình của chồng, Hoạn Thư chỉ nói 1 câu "Rằng tài nên trọng mà tình nên thương". Nhiêu đó đủ gói ghém tấm lòng biệt nhỡn liên tài, yêu ghét phân minh của Hoạn Thư. Ghen tột đỉnh nhưng vẫn suy nghĩ chu toàn cho thể diện của chồng, thu xếp tươm tất cho cả nhân tình của chồng. Thực ra, gay gắt cay nghiệt với Thúy Kiều chỉ là chuyện giận cá chém thớt, chứ trong thâm tâm người mà  Hoạn thư  muốn bắt về trị tội, muốn cho biết tay chính là cái kẻ thăm ván bán thuyền. Trận đòn ghen thì thường, nhưng tấm lòng đó mới là hiếm thấy, mới thật là:

Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan.

Trong bao nhiêu kẻ gây ra nỗi bất hạnh cho mình, Kiều tỏ ra ấm ức, căm ghét Hoạn thư nhất. Kiều không giấu nổi vẻ cay cú khi nói chuyện với Thúc sinh

Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Chưa xử mà đã chuẩn bị pháp trường tử hình tội phạm
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn thư

Khi bị Kiều trả thù, Hoạn Thư vãn hết sức bình tĩnh so với một ông chồng "mặt như chàm đổ mình dường giẽ giun". Lý lẽ của nàng khôn ngoan sắc sảo vô cùng, và trên hết là đến khi Kiều đối xử với nàng như thù địch thì nàng vẫn giữ bản lĩnh của một thiên kim tiểu thư, một phu nhân danh giá, chỉ nói những gì cần nói chứ không bỉ mặt Kiều bằng cách kể thêm chuyện năm xưa Kiều nghênh hôn bất thú, lúc trốn đi còn chôm đồ nhà mình. Đến đây ai mệnh phụ ai con hầu, ai người lớn ai kẻ nhỏ nhen chắc không cần nói nữa.
Kiều tuy mở môi là lời vàng đá, là chữ thủy chung mà xem cô ta như thế nào? Với một Hoạn Thư mang tiếng cay nghiệt hiểm ác mà xem cô ta như thế nào? Với một cô Kiều tự nhận "cửa nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong" mà nửa đêm trốn nhà đi tìm trai thì một Hoạn Thư quyền lực thâm sâu nhưng nhất mực "giữ lấy nền" ấy ai hơn ai kém, ai đáng ở nhà vàng chắc cũng đã rõ rồi !

Hoạn Thư là một người phụ nữ sắc sảo, đoan trang, và rất đàn bà. Một người phụ nữ đầy tính nữ hơn cả những người vẻ ngoài hồng nhan lả lướt. Chồng mình thì mình giữ, tình địch thì vẫn xót thương, danh giá thể diện luôn gìn giữ, "chút phận đàn bà" ấy mới thật là cái không ai có được.

Vậy lý do gì mà lại không yêu Hoạn Thư? Nếu là tôi, tôi phải quyết tâm lấy cho được nàng ấy về làm vợ :3

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Đến Man Khê bàn sự Phục Ba...

Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử
Đến Man Khê bàn sự Phục Ba.
(Chinh Phụ Ngâm)
Phó Giới Tử và Phục Ba Tướng quân là hai nhân vật được nhắc đến khá nhiều trong dòng thơ chiến tranh- biên tái. Ở đây chỉ bàn về ông Phục Ba Tướng quân này vì ổng có liên hệ với sử Việt. Trong vô số tướng tài, Phục Ba mới thật là thiên cổ danh tướng. Đỗ Phủ từng viết câu thơ:
"Trước cửa điện Bồng Lai, hỡi các vị chủ tướng,
Nếu không được như Phục Ba thì không được kiêu căng."
Phục Ba Tướng quân, tức Mã Viện, nổi tiếng trong sử Việt với cuộc đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng và cột đồng Mã Viện ấy. Ông là một tướng quân tài ba dưới thời Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú, ông phục vụ triều đình vì chính sách đãi ngộ nhân tài của Hán Quang Vũ Đế. Nói thêm về Lưu Tú, ông là một Hán đế sáng suốt anh minh đã lập ra nhà Đông Hán. Không như các bậc tiền bối như Lưu Bang chém giết công thần khi lên ngôi, bẻ cung nấu chó săn, ông biết trọng nhân tài nên rất được lòng chư hầu.

Mã viện người Mậu Lăng, đời Đông Hán. Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tô Định bị giết chết, Viện lại đem quân sang đánh nước ta để trả thù. Sau khi lấy được Giao Chỉ, ông lập đồng trụ ở biên giới khắc mấy chữ » Đồng Trụ chiết, Giao Chỉ diệt « ( Cột đồng gãy, người Giao Chỉ sẽ bị diệt ). Khi giặc mọi Man Khê làm loạn, lúc bấy giờ Viện đã 80 tuổi vẫn cầm quân đi dẹp yên. Ông nổi tiếng với câu nói "da ngựa bọc thây" mà đến giờ nhà binh dù đã đi xe bọc thép ko dùng ngựa nữa vẫn hay nói để chỉ ý chí quyết liệt nơi sa trường.
Như vậy chính xác là Hai Bà Trưng đánh quân Đông Hán. Ngô Quyền mới đánh quân Nam Hán. Một số sách bảo Hai Bà Trưng đánh quân Nam Hán là sai rất sai. Nhà Đông Hán cách Nam Hán cả nghìn năm lận.

Từ sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì VN rơi vào một nghìn năm Bắc thuộc, hoàn toàn bị Tàu đô hộ. Tuy cũng có một vài cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ như Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan... nhưng đều nhanh chóng bị triệt tiêu. Mãi đến cuối TK 9 Khúc Thừa Dụ mới giành được độc lập, mở ra thời kỳ tự trị cho dân tộc Việt. Ông được xem là người mở đầu cho chính sách ngoại giao khôn khéo của người Việt đối với triều đình phương Bắc: "độc lập thật sự, thần thuộc trên danh nghĩa". Tuy còn chính quyền vẫn còn mang danh hiệu của nhà Đường, nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, về cơ bản kết thúc ách thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến phương Bắc. Lịch sử ghi nhận công lao của ông như là người đầu tiên đặt cơ sở lấy lại nền độc lập dân tộc từ khi nước Nam Việt rơi vào tay nhà Hán. Thế nhưng sử liệu về ông quá ít ỏi, hậu thế sau này cũng không mấy ai biết về Khúc Thừa Dụ, nghĩ cũng đáng trách mấy nhà làm sử.

Nói về khởi nghĩa Bà Triệu thì chính xác là bà đánh quân Đông Ngô. Lúc đó nhà Hán phân chia thành thế Tam quốc. Bạn nào có coi phim chắc biết Tam quốc rồi. Năm 248 Tôn Quyền sai Lục Dận sang Giao Chỉ đàn áp cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh. Nói về ông Lục Dận này thì ông ấy là một tướng tài dòng dõi quý tộc đại thần. Chúng ta biết Tôn Quyền thời Tam Quốc, biết khởi nghĩa Bà Triệu, thì cũng nên biết 2 người này ân oán với nhau =)))  Gia tộc họ Lục rất nhiều người tài giỏi kiêm cả văn võ có thể kể đến:
Lục Tốn (dân VN mình mỗi lần phải xùy tiền ra là kêu tên ổng) là 1 tướng lĩnh quân sự và chính trị gia của nhà Đông Ngô sống vào cuối đời Hán, đầu đời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông nổi tiếng qua trận Di Lăng vào năm 222 đánh bại quân Thục Hán của Lưu Bị khiến ông trở thành một trong những nhà quân sự nổi tiếng nhất trong thời Tam Quốc.
Lục Tích: một trong 24 nhị thập tứ hiếu.

P.s 1: Trước những đối thủ như vậy thì việc các bà thất bại cũng bình thường. Nhưng phụ nữ mà  làm được đến vậy cũng đã rất đáng khen rồi. Lưu ý nữa là các bà có thể cầm quân khởi nghĩa vì khi đó nước Việt ta vẫn còn trong chế độ Mẫu hệ, tuy người đứng đầu trong bộ tộc, bộ lạc là nam giới nhưng vai trò của phụ nữ rất mạnh mẽ. Ôi ! Bao giờ cho đến ngày xưa....
P.s 2: Chuyện 80 tuổi cầm quân dẹp giặc sử Việt ta không phải không có. Ông Nguyễn Công Trứ 80 tuổi vẫn dâng sớ xin đánh giặc Pháp. Tiếc là triều đình Huế nhu nhược nên ý nguyện của ông thất bại.

Một số bài thơ có sử dụng hình ảnh Phục Ba Tướng quân:

Khuê oán kỳ 1
Nhạn tận thư nan ký,
Sầu đa mộng bất thành.
Nguyện tuỳ cô nguyệt ảnh,
Lưu chiếu Phục Ba doanh.
Dịch nghĩa
Nhạn không bay tới nên không gửi thư được,
Lòng nhiều buồn rầu nên ngủ không hành mộng.
Thiếp mong được nương theo vầng trăng cô đơn,
Chiếu xuống khu doanh trại của chàng ở miền cực nam.

Tái hạ khúc (Phục Ba duy nguyện lý thi hoàn)
Phục Ba duy nguyện lý thi hoàn,
Định Viễn hà tu sinh nhập quan?
Mạc khiển chích luân quy Hải Quật,
Nhưng lưu nhất tiễn xạ Thiên San.
Dịch nghĩa
Phục Ba tướng quân thề da ngựa bọc thây,
Đâu cần phải như Đinh Viễn hứa sống sót trở về quan ải.
Đừng để cho một chiếc xe nào của địch quân trở lại Hải Quật.
Hãy bắn bằng mũi tên lấy lại núi Thiên San.

tự bình _ đỗ phủ
Tự bình cung trung lữ Thái Nhất,
Thu châu Nam Hải thiên dư nhật.
Cận cung sinh tê phỉ thuý hi,
Phục khủng chinh nhung can qua mật.
Man Khê hào tộc tiểu động diêu,
Thế phong chế sứ phi thì triều.
Bồng Lai điện tiền chư chủ tướng,
Tài như Phục Ba bất đắc kiêu.
Dịch nghĩa
Tự nó bình yên, trong cung chủ trì là sao Thái Nhất,
Một ngày thu ngọc từ Nam Hải hơn cả ngàn viên.
Gần đây việc cung ứng tê giác sống, chim trả bớt đi,
Lại ngại phái quân đi gây chiến liên miên.
Vùng Man Khê các tù trưởng hơi dao động,
Được phong làm chế sứ đời đời mà không phải vào chầu vua.
Trước cửa điện Bồng Lai, hỡi các vị tướng chính,
Nếu không được như Phục Ba thì không được kiêu căng.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

TẢN VĂN

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu.
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu.

Từ "bất tri sầu" thành "tri sầu" cách có một màu xanh dương liễu. Nếu biết thời gian vô hạn, đời người hữu hạn, ngày vui tày gang mà danh lợi là phù vân chìm nổi, thì đừng để sầu não cho nhau.
Anh ạ yêu nhau há đợi gì
Danh lợi như mây nổi giữa trời
Đợi anh áo gấm xuân sau lại
Chỉ sợ nghiêng giành hốt quả mai.

Cành liễu hôm nay còn xanh, mai đã úa. Hoa hôm nay nở, mai đã tàn. Để liễu úa hoa tàn đã đành phận liễu hoa, nhưng lòng người trước cảnh ấy cũng đâu có vui gì? Sao phải đợi cành hoa không mới bẻ, liễu chuyên tay mới tiếc?
Khuyến quân mạc tích kim lũ y
Khuyến quân tham tích thiếu niên thì
Hoa khai kham chiết trực tu chiết
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

Hồng nhan không đợi đầu bạc. Quang âm lần lữa, dù tình còn đó nhưng nhan sắc đã tàn phai thì lấy gì đối đãi với người? Không cho nhau khi tươi thắm, còn gì khi muộn khi ôi? Dù không muốn phụ, cũng là đã phụ nhau rồi.

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Thơ J.Leiba

Một cánh hoa rơi rồi một cánh
Lòng ta tàn một chút gì vui.
J.Leiba

Tôi thích J.Leiba, Thái Can, Đông Hồ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính... Tôi thích những tâm hồn mới trong cấu tứ cũ. Tôi thích cái cách mà họ nói lên nỗi lòng của người nay bằng giọng điệu lịch lãm của ngày xưa. Giữa rừng thơ mới sục sôi cách tân cả ý tứ lẫn câu từ vần điệu, thì các ông lại  giữ vẻ u sầu hoài cổ, ai mà không oán, bi mà không lụy mà các nhà thơ mới không có.

Hoa tặng vừa tàn bông thược dược
Tin chàng bỗng vắng, bóng chàng xa

Hay
Sầu đối gương loan bóng lạ người
Chàng không lại nữa đẹp cùng ai.

Hay
Héo trước trăm hoa hoa bạc mệnh
Đang xuân để khỏi thấy xuân tàn.

Thật là những câu thơ mỹ lệ từ hình ảnh cho đến tâm tình ẩn chứa trong đó.
Tôi nghĩ các bạn nên tìm đọc thơ của J.Leiba, để tự cảm nhận sự đẹp đẽ nhưng ngắn ngủi vô thường của cuộc đời này. Những vần điệu du dương thanh tao ấy là một nỗi buồn êm ả triền miên, dù không khiến người ta rơi lệ, nhưng có thể khiến người ta không còn nở nụ cười trên môi được nữa.
Người đẹp vẫn thường hay chết yểu
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.
Quả đúng vậy, J.Leiba chết khi mới chỉ 29 tuổi. Thật đúng là càng rực rỡ, tài hoa, càng khó tồn tại bền lâu.

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Mùa thu nói chuyện hoa cúc

"Con đường hoàng hoa
em mang hài lục
con đường bạch cúc
em mang hài hồng
con đường sầu đông
em đi guốc tía
anh ngồi thấm thía
cội sầu trổ bông"
- Phạm Thiên Thư -

Cuối thu nói chuyện hoa cúc.

Mượn tình ý của Châu Đôn Di với hoa sen mà nói đôi điều về hoa cúc: "Thủy lục thảo mộc chi hoa , khả ái giả thậm phồn. Tấn - Đào Uyên Minh độc ái cúc ; .......... Dư vị cúc , hoa chi ẩn dật giả dã...."
[ trong các loài hoa dưới nước trên cạn, có rất nhiều loài đáng yêu. Đời Tấn có Đào Uyên Minh chỉ riêng yêu thích hoa cúc...... Ta cho rằng cúc là loài hoa biểu trưng cho sự ẩn dật...]

Nhớ tích xưa Đào Tiềm trồng hoa cúc và yêu hoa nhất mực, thậm chí luyến thương lá cúc khô mà vẫn bám cành "diệp bất ly thân" không chịu rụng. Hoa cúc trác việt siêu phàm, theo như Đào Tiềm: "Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình" -Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời"
Nói đến Đào Tiềm là nói đến hoa cúc, nói đến hoa cúc là nói đến Đào Tiềm. Đó là cặp hình ảnh đã trở thành điển tích trong văn chương Phương Đông, không riêng gì xứ ba Tàu. Vì vậy mà đời sau ngưỡng mộ ông Đào thì cũng yêu hoa cúc, trồng cúc quanh sân để học cái tâm phỉ phong thanh đạm, xa lánh ô trọc thị phi:
Sương lạc tụy bách thảo
Thì cúc độc nghiên hoa
Vật tính hiểu như thử
Hàn thử kỷ nại hà !
Xuyết anh phiếm trọc giao
Nhật nhập hội điền gia
Tận túy mao thiềm hạ
Nhất sinh khởi tại đa ?
Hiệu Đào Bành Trạch (Vi Ứng Vật)

Sương rơi trên ngọn cỏ xơ xác
Chỉ có hoa cúc là tươi thắm
Trên đời lại có vật (hoa cúc) như thế
không nao lòng dù thời tiết giá lạnh
Hái hoa cúc ấy mà ngâm rượu
Cùng chúng bạn sum vầy
Đến khi say mèm nơi thềm tranh
Đâu cần gì biết đến thế sự.

Thơ về hoa cúc nhiều không kể. Từ bậc tài danh đến kẻ vô danh, phàm ai tự cho mình là tao nhân mặc khách, nho nhã tư phong thì cũng phải vịnh phú năm ba câu về cúc. Tuy vậy tôi thật sự không thích những câu thơ kiểu như:
"Tử diễm bán khai ly cúc tĩnh
Hồng y lạc tận chử liên sầu"
hay
"Trúc diệp vu nhân kí vô phận
Cúc hoa tòng thử bất tu khai"
Còn lý do, có lẽ vì hoa cúc vốn là biểu trưng của sự ẩn dật thanh nhàn, cách ly ô trọc muộn phiền, chứ không phải là loài yếm thế mang lấy phiền muộn, bất đắc chí.
Nói về cúc, văn học Việt Nam có một giai thoại rất thú vị, tương truyền thời trai trẻ, cụ Nguyễn Du ưa hát phường vải. Có hoa khôi tên là Cúc đàn hay, hát ngọt, nhưng muộn chồng, cậu Chiêu Bảy (Nguyễn Du) đã ngâm hai câu thơ ghẹo người đẹp:
"Trăm hoa đua nở mùa xuân
Cớ sao Cúc lại muộn màng về Thu?".
Nàng Cúc biết cậu Chiêu tài hoa có ý ghẹo mình bèn đáp:
"Vì chưng tham chút nhụy vàng
Cho nên Cúc phải muộn màng về Thu".
Cúc nở về thu là đang độ mãn khai đâu có muộn màng? Và ngầm nhắn gửi thi nhân "Dù có muộn màng vì ai kia" cũng là vì chờ đợi bảng vàng, bia đá mà thôi! Không rõ về sau khi "bảng hổ" đề tên chàng và nàng có nên duyên cầm sắt?
Phải nói là một sự đối đáp xuất sắc, tinh tế và rất thông minh. Đúng vậy, hoa đến thì phải nở, gái đến thuở phải lấy chồng. Nhưng ngoài duyên phận còn phải là sự chọn lựa đắn đo, đâu phải muốn lấy ai thì lấy. Tuy vậy, số phận cô Cúc có lẽ buồn, vì sau khi chàng trai trẻ Nguyễn Du lên kinh làm quan to rồi về làng cũ, thì cô Cúc ấy vẫn hẩm hiu một mình, chưa tìm được người giai ngẫu.

Rượu và cúc không thể thiếu đối với những bậc tài hoa phong lưu mà cao cách, khoáng đạt mà khiêm cung. Họ mượn cúc và rượu tiêu sầu, để cùng nhau hàn huyên đối ẩm. Rượu tượng trưng cho dục, thì hoa tượng trưng cho sự thanh cao, đời không trọn vẹn nên khó có thể cứ muốn là có được tất cả:
Khứ niên kim nhật hữu hoa đa
Ðối khách sầu vô tửu khả xa .
Thế sự tương vi mỗi như thử,
Kim triêu hữu tửu khước vô hoa
Cúc Hoa Vịnh (Trương Hán Siêu)

[Ngày này năm ngoái hoa nở đầy
Buồn vì không có rượu để tiếp đón bạn
Thế sự lắm chuyện éo le nghịch lý
Hôm nay có rượu rồi, thì lại chẳng có hoa.]

Thần Siêu có lẽ chưa nói ra hết sự éo le ở đời. Tôi nghĩ, thậm buồn là khi đã có hoa, có rượu rồi thì lại không có bạn. Để cuối cùng phải một mình uống rượu với hoa
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai.

[Chỉ e nếu hoa mà biết nói
(Sẽ nói) chẳng vì lão già mà nở hoa.]

Tản văn
11.9.2016

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

Vịnh hoa lài


Mai son bến phấn day day
Một nguyệt đưa xuân một nguyệt hay
Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận
Hồng nhan kia chớ cậy mình vay.
Nguyễn Trãi

* Mai son: thuyền của kỹ nữ xưa. Mui thuyền thường sơn màu đỏ. Cặp phạm trù mai son - bến phấn cho thấy sự lênh đênh, tạm bợ không gắn kết vào đâu như thân phận kỹ nữ. Khác xa hình ảnh "thuyền về có nhớ bến chăng..."  Chỉ có thể nói
Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
* Tại sao vịnh hoa lài mà nói về kỹ nữ? Chính là vì các ông thâm nho ngày xưa coi hoa lài là loài hoa lả lơi không đứng đắn, mau nở mau tàn, chỉ nở và thơm về đêm. Tôi thì tôi nhìn mãi chẳng thấy lài lả lơi chỗ nào? Bông hoa nhỏ bé dịu dàng, nở về đêm còn tránh được ong bay bướm lượn. Nếu mà so với đoá trà mi "con ong đã tỏ đường đi lối về" thì còn thập phần tinh khiết hơn nhiều. Oan cho hoa lài quá :-<

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

Hồng nhan phải giống mãi trên đời...

Kim lũ y
Khuyến quân mạc tích kim lũ y,
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì;
Hoa khai kham chiết trực tu chiết,
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.
(Đỗ Thu Nương)
Dịch
Áo kim tuyến
Khuyên chàng đừng tiếc áo hoa
Khuyên chàng hãy tiếc đôi ta đương thì
Cành hoa nên bẻ bẻ đi
Để khi hoa rụng bẻ gì cành không.
Tâm đắc ý tưởng trên, J.Leiba đã vận dụng rất nhiều tứ thơ trên vào thơ của ông. Một chàng thanh niên hăm hở với cuộc đời, và một cô gái đa sầu đa cảm mãi đợi chờ.... Tiếc rằng xuân qua xuân đến, không chờ đợi cô.
Anh ơi! Anh mải bước công danh,
Để phụ cho nhau một mối tình.
Nhãnh liễu vườn xuân, ai ấy chủ?
Chờ ai biết có khỏi trao cành?
Má đỏ, xuân em chỉ có thì,
Xuân qua, phó nhẽ đợi anh về,
Tương tư lệ nhỏ phai mầu phấn,
Anh hỡi! Yêu nhau há đợi gì?
Danh lợi như mây nổi giữa trời,
Hồng nhan phải giống mãi trên đời?
Đợi anh áo gấm xuân sau lại,
Chỉ sợ nghiêng giành hót quả mai!
( Năm qua - J.Leiba)
Cuối cùng, người cũng vô tâm. Chỉ có ta là thương tiếc hoa sắp rụng....
Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai,
Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài,
Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ.
Âu sầu thiễu nữ khóc hoa mai.
(Mai rụng - J.Leiba) 
Chàng đi mãi mãi không trở lại. Công danh của chàng rồi như mây trôi giữa trời. Tình duyên của thiếp cũng như bọt trong bể nước.... Khi chàng trở lại, thì nước đã chảy về đông khó chảy về tây.... Son phai phấn nhạt còn gì trân trọng cho nhau?
1. Áo kim tuyến : chỉ công danh sự nghiệp
2. J.Leiba : Tên thật là Lê Văn Bái, có thể tham khảo thêm về ông trong cuốn Việt Nam thi nhân tiền chiến của Hoài Thanh. Riêng tôi, rất yêu cái hồn cổ điển, cái ý tứ mềm mại, đoan trang kín đáo trong thơ của ông.
3. "Chỉ sợ nghiêng giành hót quả mai". Giành đây không phải động từ (tranh giành), mà là một danh từ tiếng địa phương. Đó là vật đụng được đan từ nứa, giống như một cái làn (giỏ có quai xách) vậy. Nhiều người hời hợt không tìm hiểu rõ làm mất hay câu chữ của người ta. Khi còn là hoa đã không ai ngó, thì đến lúc chỉ còn là những quả mai (mơ) rụng lăn lóc lấy ai ra nữa mà "giành" nhau. Đời sau đọc hiểu sai đi ý nghĩa, e là cô gái ấy lại càng thêm tủi thân.

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Gương

Nhân loại trong tiến trình từ mông muội tới văn minh đã dần hoàn thiện rất nhiều thứ, từ đời sống vật chất cho tới tinh thần, trong đó, không thể không kể tới sự ngày càng quan tâm đến hình thức của mình. Sự quan tâm đến hình thức của mỗi cá nhân xuất hiện khi bỗng một ngày, có lẽ là vô tình, người ta nhìn thấy bóng mình qua làn nước. Kể từ ấy, con người có nhu cầu ngắm nhìn mình mỗi ngày mỗi nhiều hơn, nhu cầu làm đẹp cũng dần dần xuất hiện một cách bức thiết hơn. Từ đông sang tây, từ cổ chí kim, ai không muốn ngắm vuốt chính mình. Thế nên cá ở bến sông Trữ La mới ngẩn ngơ vì bóng Tây Thi. Hay anh chàng Narcisse xinh trai đã chết vì say mê chính cái bóng của mình.

Gương là bạn của phụ nữ. Đàn ông có thể không soi gương nhưng phụ nữ thì không thể :))) ngay cả như vô tình đi ngang tấm kính bóng lộn trên phố cũng phải liếc vào soi xem mình như thế nào. Đó là phản xạ tự nhiên luôn chứ không phải là quán tính nữa. Thế giới mà không có gương soi thì quả là thảm hoạ, nhẹ nhàng lắm cũng phải trở nên hỗn loạn lộn tùng phèo như câu truyện thế giới không gương soi trong Doraemon. Phụ nữ xấu đẹp gì cũng thích soi, chẳng những soi bản thân mình qua gương để tự thấy mình đẹp, mà còn soi cả người khác để thấy mình...đẹp hơn. Có chút sân si mới là phụ nữ (dù rằng tôi thấy cái sân si đó nó cứ khó ưa kiểu gì ấy. Haha)

Gương không chỉ là vật để soi, để ngắm vuốt, nó còn là vật quy chiếu tâm trạng con người. Soi gương là soi tâm, chính vì vậy mà Giả Thuỵ mới phải chết vì cái gương phong nguyêt bảo giám. Chẳng phải tâm tưởng của Giả Thuỵ đã chết từ sau lần bị Phượng Thư lập mưu dội cho thùng nước lạnh hay sao. Nếu chỉ vì cảm hàn thì đâu cần lão đạo sĩ cho chiếc gương ấy, uống thuốc bệnh cũng tự khỏi. Mà đã vì tâm bệnh thì dù một vạn chiếc gương phong nguyệt bảo giám cũng không thể cứu được. Bởi tâm si mê nên soi gương không phân được giả thật, chạy theo ảo ảnh để rồi cuối cùng vong mạng. Đáng thương thay anh si tình gặp ai không gặp lại gặp nhằm Phượng Ớt.

Nhân loại sau một thời gian dài soi gương qua làn nước đã tiến tới việc chế tạo ra những chiếc gương bằng đồng bằng bạc. Thế nhưng, chất liệu đồng bạc khiến chất lượng gương soi không rõ nét, bị mờ nhiều. Lại phải trải qua một thời gian dài nữa, con người mới tìm ra cách chế tạo thủy tinh và từ đó soi gương bằng chất liệu này. Việc phát minh ra kính/thủy tinh có lẽ là một điều kỳ diệu không kém gì các phát kiến khác thuộc văn minh vật chất, chẳng thế mà nhiều dân tộc có quan niệm rất thiêng liêng về tấm gương, coi đó như nơi giữ gìn linh hồn của con người. Chính vì gương ở chốn khuê phòng là vật bất ly thân của người phụ nữ nên nó cũng mang theo tâm hồn và cả cuộc đời của các cô các bà. Khi vui thì họ thích soi gương điểm phấn, nhìn ngắm vẻ mỹ miều của chính mình "cùng thầy me em dậy sớm, em vấn đầu soi gương". Khi buồn rầu tiều tuỵ, thì tấm gương lại là thứ mà họ muốn né tránh. Cả đấng nam tử Hán đại trượng phu như Chu Du, Ngũ Tử Tư khi nhìn thấy vẻ ốm yếu bệnh hoạn, mái đầu bạc của mình trong gương còn đập vỡ kính thì huống gì là phụ nữ. Gương trở thành vật biểu thị tình cảm, biểu thị sự buồn vui của con người. Tâm trạng thê lương buồn thảm của một chinh phụ có chồng ra trận đã quá lâu không thấy về
Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại chứa chan (Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn)

Hay nỗi lòng u ám không có tương lai của một phụ nữ đã lỡ bước sang ngang trái duyên trái phận, tâm hồn nàng héo chết:
Chị giờ tóc rối tơ vương
Em còn cho chị lược gương làm gì?

Chính là vì
Nương song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai (chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn)

Người phụ nữ chỉ đẹp vì người mình yêu dấu. Nên khi xa vắng tâm trạng nàng cô đơn buồn tủi, hình dung võ vàng thì đến cả bóng mình trong gương cũng trở nên xa lạ. Không có người yêu bên cạnh tô son điểm phấn cũng bằng thừa.
Sầu đối gương loan bóng lạ người
Chàng không lại nữa đẹp cùng ai.(Mai rụng - Leiba)
Khi ấy việc điểm phấn tô son không còn ý nghĩa tô điểm làm đẹp nữa, mà chỉ để ngạo nhân tình thế thái.

Gương loan còn là một điển cố văn học.
Chuyện rằng :
Diểm Tân Vương nuôi một con chim loan, nhưng ba năm không hót được một tiếng nào.
Sau có người bảo :
- Chim loan có đôi mới hót.
Tân Vương liền dùng gương lớn đặt trước lồng. Chim loan nhìn vào gương tưởng là đồng loại, nên cất tiếng hót, rồi cứ hót mãi và hót hoài cho tới khi khan giọng chết.
Vì thế mới có thơ rằng :
Đã gác gương loan treo giá ngọc,
Nỡ hoài chim cú đậu cành mai. (Cao Bá Quát)
Gương loan biểu thị cho tình cảm vợ chồng gắn bó, son sắt khó chia lìa. Bởi vì hằng ngày gương soi hình soi bóng, nên nó cũng trở thành một vật nối giữa hiện thực và tâm linh. Đến cả bậc quân vương khi mất đi người đầu ấp tay gối cũng chỉ có thể
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi (Khóc Thị Bằng - Tự Đức)
Thế nên khi lòng người đơn sai, gương vẫn sáng trong như vậy nhưng soi trong gương đã khác.
Hà huống như kim loan kính trung
Thiếp tâm vị cải, quân tâm cải (Hành lộ nan - Lý Bạch)

Tình cảm đã không còn, tâm can đứt đoạn, thì mảnh gương cũng chẳng vẹn nguyên
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều)

Gương vỡ khó lành. Ở đời câu chuyện li kì của Từ Đức Ngôn với Nhạc Xương Công chúa không lặp lại hai lần. Nên nếu ai đã chung bóng chung đôi trước gương loan, nếu một mai thay tâm đổi ý xin nghĩ lại. Nỗi lòng nhung nhớ tương tư nếu không thấu hiểu, xin về mà ngắm trước gương trong.
Thử thời hoành ba mục
Tích thời lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Quy lai khán thủ minh kính tiền.(Trường tương tư - Lý Bạch)

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

Tản văn - Tạ người cho trà

Sơn Trà
Tác giả: Nguyễn Khuyến

Xuân lai khách tặng ngã sơn trà,
Túy lý mông lung bất biện hoa
Bạch phát thương nhan ngô lão hỉ,
Hồng bào kim đái tử chân da ?
Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà
Cận nhật tương khan duy dĩ tị
Liễu vô hương khí nhất kha kha !

Nguyễn Khuyến tự dịch

Tết đến người cho một chậu trà,
Ðương say ta chẳng biết rằng hoa
Da mồi tóc bạc ta già nhỉ
Áo tía đai vàng bác đó a
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi già
Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi
Ðếch có mùi hương một tiếng khà.

Giai thoại truyền rằng cụ Yên Đổ về già mắt kém, bị cụ Chu Mạnh Trinh chơi xỏ tặng cho chậu hoa trà ngụ ý chê đôi mắt loà của ông. Hoa trà là thứ hoa tuy đẹp đẽ, rực rỡ nhưng không có mùi vị gì. Cụ Yên Đổ bèn làm bài thơ này, trước để cảm ơn, sau để cho thấy mắt ta tuy loà thật, mắt bác chắc gì đã sáng hơn. Nếu có đôi mắt tinh tường thì Chu Mạnh Trinh đã không dám nhờn. Nhận được bài thơ có lẽ cụ Trinh mắt đã sáng sẽ càng thêm sáng mắt ra :)))
"xuyên diệp" được cụ Nguyễn tự dịch thành "phường xỏ lá" thì thật là tuyệt đỉnh công phu :)))  ngôn ngữ trong mồm người trí thức quả thật như dùi đâm vô óc người khác. Chu Mạnh Trinh cũng bậc trí thức. Nên là người khôn chẳng nệ roi đòn. Một lời siết cạnh hãy còn đắng cay.

Người đẹp cũng như hoa, những người có sắc không hương cũng là cách tạo hoá mỉa mai người đời "sáng mắt mà điếc lòng" vậy.

Hoa đẹp nên có hương có sắc. Người mù loà chơi hoa bằng mũi đã đành, nhưng người sáng mắt cũng chỉ chơi hoa bằng mắt vậy thôi. Tội nghiệp cho cây hoa trà, lỗi chi mà bị đem ra chế giễu mỉa mai.